PDA

View Full Version : Tìm lại hành trình Bác Hồ lên thăm Lào Cai


CADer
04-09-2010, 10:53 PM
Đây là loạt phóng sự của các phóng viên báo Lào Cai Viết về việc tìm lại hành trình của Bác Hồ khi người lên thăm tỉnh Lào Cai vào năm 1958 bắt đầu từ ga Làng Giàng. Trong đó đề cập nhiều tới lịch sử đoạn đường sắt từ ga Làng Giàng đến cầu Hồ Kiều và lịch sử hình thành cùng quá trình phát triển của phương thức vận chuyển quặng bằng đường sắt của mỏ Apatit Lào Cai.

Loạt phóng sự này được thực hiện vào năm 2007 nhân kỷ niệm 100 năm Lào Cai nó mang nhiều tính khảo cứu lên xin phép post lên đây để anh em tham khảo. (Một số ảnh trong các bài dưới đây có thể không nằm trong phóng sự gốc mà được CADer chèn vào từ nguồn khác.)



TÌM LẠI HÀNH TRÌNH BÁC HỒ LÊN THĂM LÀO CAI


LCĐT - Đúng vào những ngày đoàn tàu hoả đưa Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ lên thăm Lào Cai cách đây 49 năm, đoàn cán bộ, phóng viên báo Lào Cai tìm lại hành trình theo những địa chỉ Bác đến thăm. Cảnh sắc do thời gian đã làm thay đổi nhiều, nhưng dấu ấn khi gặp các nhân chứng lịch sử, các dấu tích còn lại trên hành trình Bác đã đến, giúp chúng tôi cảm nhận những cảm xúc về ngày thu đặc biệt xưa.


Kỳ I: TỪ LÀNG GIÀNG TÌM LẠI CON ĐƯỜNG VÀO MỎ

Trời trong xanh, hôm trước do ảnh hưởng của bão số 4, trận mưa rào còn để lại những vũng nước lầy lội dọc đường, rẽ trái từ cuối Đại lộ Trần Hưng Đạo, theo đường nhỏ chúng tôi ra bến khai thác cát ven bờ sông Hồng phía dưới mố cầu Làng Giàng cũ, nay thuộc phường Xuân Tăng để lên thuyền sang sông.
Ga Làng Giàng nay đã được nâng cấp, nhưng 3 tuyến đường ray thì vẫn gần như trên vị trí cũ, cầu Làng Giàng không còn, cây cầu đã từng gánh trên vai hàng triệu tấn quặng apatít bị đánh sập cách đây 28 năm do chiến tranh biên giới làm cho ga kém đi phần đông vui nhộn nhịp.

Đường sắt từ trạm gác ghi phía bắc rẽ ra cầu Làng Giàng vào mỏ xưa kia chỉ còn dấu tích nền đường, nhà dân và hai hàng cây nhãn cổ thụ trồng mấy chục năm sau này khi đường sắt dỡ bỏ đã giúp lưu giữ lại chứng tích.
Ga Làng Giàng ban đầu được xây dựng cách đây trên 100 năm, khi đó người Pháp làm đường sắt Yên Bái - Lào Cai theo kiểu cuốn chiếu. Vạch tuyến, mở đường đất, làm cống rãnh, sau cùng mới đổ đá đặt ray. Đường vươn dài tới đâu, sử dụng ngay đến đó để làm đoạn tiếp theo.

Chuyện kể rằng, khi đi khảo sát tuyến, kỹ sư người Pháp đã nghỉ tại nhà dân bản xứ, nằm trên tấm phản mới mùi gỗ ngai ngái, ông ta hỏi người thông dịch “gỗ gì, có độc không?” Sau khi nghe chủ nhà giải thích là gỗ "giàng giàng" và nghe dịch lại, người kỹ sư ghi và khoanh chấm hoa thị vào tấm bản đồ, sau này trở thành tên ga. Đất trời Làng Giàng có gì đó rất khó đặc tả, sáng đón bình minh muộn hơn, chiều hưởng ánh hoàng hôn thời gian như lâu hơn. Thuở trước khi vào thăm bạn ở trường Thanh niên dân tộc tỉnh lúc đó đóng tại Làng Giàng, cũng đã có lần tôi được nghe kể chuyện đó và tranh luận mãi.

Hôm nay chúng tôi lách rào qua các vườn, lần tìm theo dấu tích con đường gần 50 năm trước Bác Hồ từ ga đi thăm khu nhà ăn, nhà nghỉ của đội cầu Trần Tử Bình nổi tiếng một thời và xuống phà sang Cửa Ngòi phía đầu cầu bên này.
Anh thanh niên tên là Vinh đưa thuyền gắn máy dẫn chúng tôi thăm hai bên mố cầu còn sót lại, chiếc trụ cầu bị đánh gục nhô lên mặt sông chừng một mét. Mặt sông mùa này nước chảy xuôi như hiền hoà hơn, nắng sớm chiếu trên mặt nước ánh bạc lên trước mũi thuyền. Theo lời giới thiệu của Vinh, chúng tôi lên nhà cụ Đĩnh 86 tuổi, thuộc tổ 4, phường Xuân Tăng, ở gò sát sông Hồng, đối diện bên kia sông là ga Làng Giàng. Cụ nói quê gốc Phú Thọ, đã ở mảnh đất này từ khi mới 2 tuổi thời Pháp thuộc, cụ có 4 con đi bộ đội, trong số đó có một người đã hy sinh.

Cụ kể: Cây vối to bên bờ sông cụ trồng cách đây hơn 60 năm, năm nay bán nụ vối cũng được nửa triệu đồng. Hồi đó cây vối đã to, bà con đứng vây quanh gốc vối này trong đó có cả mấy anh bộ đội và công an về nhà cụ từ sáng sớm ngắm chiếc phà đưa Bác và đoàn cùng đi sang sông. Là người nông dân vì đói kém phải rời quê lên từ nhỏ, biết thế nào là giặc Pháp càn, thổ phỉ tràn qua và bọn lính Tàu Tưởng cướp phá. Được hưởng độc lập mới mấy năm mà đời sống dân vùng này sướng hẳn lên. Đứng ở đây chỉ được ngắm nhìn Bác và phái đoàn Chính phủ từ xa, nhưng trong tâm tưởng cụ và gia đình luôn tin vào Việt Minh, ơn Cụ Hồ. Chồng cụ là bộ đội, các con cụ lớn lên lần lượt vào bộ đội, cả tỉnh này nhiều nhà cũng tham gia như vậy.
Những tấm bằng khen, bằng chứng nhận gia đình văn hoá treo trên tường ghi nhận gia đình cụ nhiều năm liên tục đạt danh hiệu gia đình văn hoá, những gia đình giàu truyền thống cách mạng thường gặp ở mỗi làng quê.

Bên này sông, chúng tôi tới trụ cầu Làng Giàng còn sót lại nằm sau nhà cụ Hợi, thuộc tổ 8 phường Bình Minh. Nhà cụ và 2 nhà khác nằm đúng trên khu đường sắt đầu cầu xưa. Cụ chỉ khu vườn cây và các công trình phụ của gia đình là nằm trên đường sắt đã được dỡ bỏ những năm sau chiến tranh biên giới, phía hông nhà là đường đi Xuân Tăng có cột điện cao thế, trước đây vị trí đó là nơi buộc dây cáp căng qua sông nối với bên Làng Giàng để kéo phà bằng tay chở quặng.

Bây giờ đây mọi dấu tích xưa còn lại không nhiều, nhưng vẫn là điểm nhớ về một thời những dân phu bị Pháp - Nhật vắt kiệt sức bên máng quặng, phồng tay kéo phà sang sông, rồi nghe như vang vọng quanh đây khí thế lao động hăng say xây dựng xã hội chủ nghĩa của lớp công nhân dưới chế độ mới, phấn đấu thông cầu Làng Giàng trước thời hạn. Bao giờ mới bắc lại cây cầu Làng Giàng như xưa? Những người già cũng như trẻ tôi gặp đều chung câu hỏi khi biết chúng tôi là nhà báo đang tìm lại dấu tích về cây cầu và chuyến lên thăm Mỏ Apatít Cam Đường của Bác Hồ giữa thế kỷ trước.

Tìm lại lịch sử, năm 1924, sau khi phát hiện và xác định quặng apatít ngẫu nhiên qua việc cha con ông Trần Văn Nỏ, dân tộc Tày người làng Hẻo, Cam Đường khi đi rừng bắc bếp bằng những cục đá đun phát ra tia lửa xanh kỳ lạ. Nhận tin báo từ viên Công sứ tỉnh trưởng Lào Cai, Toàn quyền Đông Dương đã chỉ đạo tới 11 đoàn khảo sát thăm dò, 10 năm sau vào năm 1934 bản đồ trữ lượng apatít ở mỏ Cam Đường được công bố.

http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2009/T3/9/cu-no.jpg
Ông Trần Văn Nỏ, người có công phát hiện ra quặng Apatít, thay mặt đồng bào địa phương gửi biếu Bác Hồ tấm khăn dân tộc. Ảnh: TL

Sau đó cuộc tuyển mộ phu được giao cho chủ thầu người Việt Vũ Văn Đức. Nhân năm đồng bằng Bắc Bộ vỡ đê, đói kém, chủ thầu khét tiếng này đã huy động nhanh chóng hàng trăm nông dân các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Sơn Tây lũ lượt lên làm phu khai thác mỏ. Ban đầu việc chở quặng rất gian truân, phải theo đường 109 Cam Đường - Lào Cai mới mở ( sau này là đường 4 E), tập kết quặng tại ga Lào Cai và chở xuôi.
Từ năm 1940, nhu cầu lớn hơn, được đầu tư, mỏ hình thành 3 khu khai thác làng Mô, Cam Đường, mỏ Cóc. Con đường vận chuyển quặng từ làng Hẻo ra bến sông gọi là Cửa Ngòi được mở. Việc vận chuyển quặng bằng goòng ra bến sông, đổ vào vơ - re - my giống như cái máng rót quặng từ trên bờ cao xuống phà. Công sức của trên 300 công nhân, phu phen đào quặng, bốc vác thủ công vận chuyển gần chục cây số, mồ hôi quyện thấm vào từng cân quặng đổ lên tàu hoả rôi lại bốc xuống tàu thuỷ ở Hải Phòng, chuyển về chính quốc làm giàu cho thực dân Pháp.

Sau đó, tuyến đường goòng dài 8 km từ Cửa Ngòi - ga Gốc Đa hoàn thành, việc vận chuyển quặng nhanh hơn. Theo báo cáo của viên Công sứ Lào Cai, trong 4 năm (1939 - 1942) khai thác được 250 nghìn tấn quặng tốt và xuất khẩu 152 nghìn tấn. Năm 1941, sau khi chiếm đóng vùng mỏ, Nhật nâng cấp tuyến đường goòng, các toa chở quặng bằng toa đĩa và kéo bằng đầu máy hơi nước, họ còn định khôi phục lại việc khai thác mỏ đồng làng Nhớn, làng Phời trước đây bị bỏ dở.

Từ năm 1944, chiến tranh ác liệt, mỏ và cáp tời kéo phà chở quặng sang ga Làng Giàng do người Nhật thầu đã bị máy bay Mỹ ném bom tàn phá, mỏ tạm đóng cửa, mãi tới năm 1955, sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ta mới khôi phục lại việc khai thác Mỏ Apatít Cam Đường. Dọc đường từ Cửa Ngòi về cầu Làng Chiềng, tôi cứ lang mang nghĩ mãi về tư liệu lịch sử nói về trận lũ ống năm 1941 cuốn trôi cả tốp thợ mấy chục người làm cầu và bao người dân phu gục ngã bên đường tàu. Buổi chiều, chúng tôi tìm đến ga Gốc Đa, nơi trước đây là khu tập kết quặng sau khi khai thác để rồi bốc đổ vào vơ - re - my, rót xuống toa xe goòng để chở ra bến phà Làng Giàng.

Năm 1958, khi Bác và phái đoàn Chính phủ lên thăm mỏ, cũng là dịp mỏ đang bước sang thời kỳ quản lý sản xuất kinh doanh mới xã hội chủ nghĩa sau 3 năm khôi phục. Tàu dừng ở gần ga Gốc Đa, Bác và phái đoàn xuống tàu vào thăm văn phòng mỏ và khu ở của chuyên gia Xô Viết, khai trường mỏ Cóc và đội máy xúc RYI - 1m3, trước khi đến gặp công nhân và đồng bào tại Sân vận động cạnh Văn phòng mỏ. Giờ đây chỉ những công nhân ngày trước hoặc những người dân cao tuổi ở làng Dạ, làng Hẻo, làng Pèng mới biết về ga Gốc Đa.

CADer
04-09-2010, 11:04 PM
Kỳ II: NHỮNG CHUYẾN PHÀ CHỞ QUẶNG VÀ CÂY CẦU LÀNG GIÀNG GIỮA THẾ KỶ XX

Nhiều tài liệu còn ghi lại việc chuyên chở quặng bằng phà qua sông Hồng kéo dài 20 năm, từ năm 1939 đến cuối năm 1959, thời điểm cây cầu Làng Giàng khánh thành. Sau khi cây cầu bị sập, vào thập kỷ 80 thế kỷ trước, để xây dựng pháo đài biên giới ta cũng tổ chức lại bến phà, mùa cạn thì làm cầu phao, còn vận chuyển quặng thì theo đường bộ đi Phố Lu, bây giờ thì vận chuyển theo tuyến đường sắt ga Mỏ Cóc - Pom Hán - Xuân Giao để ra Lu hoặc vào khu tuyển quặng Tằng Loỏng. Bến phà, cây cầu phao và cây cầu Làng Giàng đã đi vào dĩ vãng.

Ông Nguyễn Văn Lang, nguyên giám đốc mỏ đầu tiên được Bộ Công Thương lúc đó điều lên chỉ đạo khôi phục mỏ từ năm 1955, kể lại: Chúng tôi phải nghiên cứu thực tế để chỉ đạo khôi phục mỏ, chứ tài liệu hầu hết bằng tiếng Pháp. Đại đội 406 thuộc Đoàn thanh niên xung phong Trung ương được điều lên 50 người, công nhân làm việc lâu năm ở mỏ được triệu tập hoặc kêu gọi về, cái thuận lợi là khí thế và quyết tâm của công nhân rất cao, việc tập hợp các đội, ca kíp cũ cũng nhanh. Công việc làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là làm thế nào quặng chuyển qua phà an toàn, không bị vương vãi. Mỗi cân quặng từ ga Gốc Đa ra đây là mồ hôi, nước mắt của tập thể anh em lao động. Ban đầu chở quặng qua sông bằng thuyền gỗ truyền thống, sau đó thay bằng phà, mỗi chuyến được chừng 3-4 tấn. Trong những tháng mùa khô, nước sông Hồng cạn, chúng tôi tổ chức làm cầu tạm để chuyển quặng qua sông thay cho việc chở bằng phà.
Trước đó vào năm 1941, phát xít Nhật sau khi chiếm mỏ apatít Cam Đường, thấy rõ nguồn lợi trong tay đã đôn đốc khai thác gấp gáp hơn để phục vụ không những nhu cầu về phân bón mà chủ yếu về hoá chất phục vụ chiến tranh.

Sự hà khắc dã man của chế độ phát xít cộng với chi phí đầu tư phục vụ chiến tranh, đường chuyên chở về Nhật lại gần hơn nên khối lượng quặng trong năm tăng gấp rưỡi. Năm 1942, Nhật nâng cấp đoạn đường sắt Cửa Ngòi đến ga Gốc Đa từ đường goòng rộng 0,6 m lên 1,15 m, có đầu tàu kéo mỗi chuyến được 3 - 4 toa đĩa và toa chở hàng hoá, khối lượng khai thác 300 nghìn tấn/năm. Khi quặng chở ra bến sông, được đổ vào vơ-re-my chuyển xuống phà. Đường cáp tời được buộc nối hai bên bờ sông, bánh xe ròng rọc móc vào cáp, một đầu buộc vào phà, người thợ phà dùng thanh gỗ như chiếc dùi đục có khuyết mắc vào cáp kéo phà dần sang sông.

Cuộc đời người thợ khai thác quặng xưa thật cơ hàn, phu khai thác quặng là phu làm đường sắt chuyển sang, số khác là nông dân các tỉnh bắc bộ đói kém, thời điểm đông nhất vào năm 1943 có tới 500 thợ. Lời ru của các bà các chị ở mỏ xưa nhắc lại ký ức một thời cơ cực:

À ơi !
Tiếng đồn Mỏ Cóc thảnh thơi,
Lên đây chỉ những xơi roi cặc bò,
Thằng Tây đầu nhỏ, bụng to,
Luôn mồm chửi "mẹc", " xà lù", "cu soong"
*
* *
Ai lên Mỏ Cóc Cam Đường,
Khi đi thì có, khi về thì không...

Ý tưởng xây cầu Làng Giàng được các kỹ sư người Pháp đề xuất từ những năm bốn mươi của thế kỷ XX, sau khi xây dựng tuyến đường goòng rộng 0,6 m chở quặng từ mỏ ra. Tuy nhiên do vốn đầu tư tốn kém và cả do chiến tranh nên khảo sát rồi để đó, việc xây cầu không được triển khai. Khi Nhật chiếm mỏ và cả khi nâng cấp tuyến đường sắt từ Cửa Ngòi đi làng Hẻo, làm bến tập kết bốc quặng ở ga Gốc Đa, việc khảo sát xây dựng cầu chưa thấy có tài liệu nào ghi chép. Chỉ có dòng tin đăng trên tờ TIN TỨC (tiền thân báo Lào Cai ) số 205, ra ngày 10 -1 - 1958 ghi lại dấu tích "Cây cầu tạm đầu tiên để vận chuyển quặng được làm tháng 10 - 1957, để vận chuyển quặng trong mùa khô thay cho việc vận chuyển bằng phà".

Cầu Làng Giàng được khởi công tháng 2 - 1956 do chuyên gia Trung Quốc giúp ta khảo sát và xây dựng. Cầu dài 230 m, với 22 rầm thép truyền thống, chỉ đặt đường ray dành cho tàu hoả, hai bên có đường dành riêng cho người, xe đạp, súc vật có thể qua lại được lát bằng gỗ, sau thay bằng tấm bê tông mỏng.

Sáng ngày 23 - 9 - 1958, khi Bác Hồ vào thăm mỏ, cây cầu đã xong các trụ và đang lao các nhịp cầu thép. Từ ga Bác không vào Hội trường của đơn vị đang thi công cầu đã được trang trí lộng lẫy. Người đi dọc theo khu lán nghỉ, nhà ăn dành cho công nhân công trường, thăm hỏi và động viên những công nhân đang trực tiếp xây dựng cầu. Sau khi bắt tay và trao đổi trực tiếp bằng tiếng Trung với các chuyên gia Trung Quốc, Người xuống phà sang sông và ngược lên đầu cầu bên Cửa Ngòi, nơi đoàn tàu gồm 3 toa đĩa và 1 toa va - gông chở hàng hoá có bố trí hai hàng ghế dọc toa đang đứng đợi, đưa Bác vào thăm Mỏ.

Lại nói chuyện khi xây cầu Làng Giàng, ông Trần Xuân Nam, nguyên Giám đốc mỏ kể với tôi: Việc giữ mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị trong bối cảnh quốc tế lúc đó với các đoàn chuyên gia như Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc giúp đỡ ta trong ngày đầu khôi phục kinh tế Miền Bắc được trên chỉ đạo mỏ rất cặn kẽ.

Chính vì vậy quá trình khôi phục mỏ và xây dựng cầu Làng Giàng, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao hữu nghị giữa công nhân ta và chuyên gia Trung Quốc với chuyên gia các nước tại mỏ diễn ra thân tình. Sân vận động lúc đầu của mỏ nằm trên gò cạnh làng Hẻo chủ nhật nào cũng là điểm hẹn các trận bóng đá, bóng chuyền, giao lưu văn nghệ và xem chiếu phim. Cầu Làng Giàng thông xe kỹ thuật đúng dịp chào mừng kỷ niệm lần thứ 14, ngày quốc khánh 2 - 9 - 1959, về trước kế hoạch 3 tháng.

Đầu năm 1979, chiến tranh biên giới, cây cầu bị đánh sập cùng với nhiều vật tư máy móc trong mỏ để lại bao khó khăn cho việc tổ chức khai thác lại Mỏ Apatít Cam Đường lần thứ II. Sau chiến tranh, một lần nữa ta lại tổ chức vận chuyển quặng bằng phà qua sông vào mùa mưa và làm cầu phao vào mùa cạn.

http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2009/T3/9/cau-lang.jpg
Cầu phao Làng Giàng được khôi phục sau năm 1979. Ảnh: TL

CADer
04-09-2010, 11:31 PM
Kỳ III: TÌM VỀ GA GỐC ĐA

Ga Gốc Đa có từ những ngày đầu khai thác Mỏ Apatít Cam Đường, nơi đây còn để lại nhiều dấu tích về quá trình xây dựng mỏ mấy chục năm của thế kỷ trước, không những thế còn khắc sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ công nhân được may mắn đón Bác Hồ vào thăm mỏ trưa ngày 23- 9 - 1958.
Chúng tôi tìm đến vị trí nơi chuyến tàu quặng chở Bác và phái đoàn Chính phủ dừng lại năm xưa, vị trí đó hiện nay là lối rẽ vào làng Hẻo, cạnh nhà bà Lưỡng, từ đây nhìn thấy trạm biến thế, trạm điện nước và khu cơ quan của Xí nghiệp Khai thác I ở trên gò. Bác và phái đoàn xuống tàu vào Văn phòng Mỏ, lúc đó còn là khu nhà tạm, sau ít phút nghỉ ngơi, Bác sang thăm khu chuyên gia Liên Xô kế bên, lên tầng thăm công trường Mỏ Cóc và đội máy xúc RYI - 1m3 cách đó chừng 2 km.

http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2009/T3/9/bac-chu.jpg
Bác Hồ thăm khai trường mỏ Cóc và nói chuyện với chuyên gia Liên Xô công tác tại mỏ Apatít Lào Cai (23/9/1958) . Ảnh: TL

Sau đó Bác về sân vận động, nơi cán bộ, chuyên gia, công nhân và rất nhiều đồng bào làng Dạ, làng Hẻo đang tập trung, có lễ đài để Bác nói chuyện. Đây cũng là nơi Bác tặng mảnh vải lụa cho ông Trần Văn Nỏ, người phát hiện ra quặng apatít năm xưa, ông Nỏ thay mặt bà con địa phương tặng Bác chiếc khăn thổ cẩm truyền thống của bà con dân tộc và được Bác gọi nhà nhiếp ảnh đứng cạnh chụp ảnh làm kỷ niệm. Nhân đây xin nói thêm, đã từng có ý kiến nói trên đường lên mỏ, Bác vào thăm gia đình ông Nỏ trong làng Hẻo là không chính xác.

http://i742.photobucket.com/albums/xx68/PhongCADer/OUVRM3ETK0.jpg
Bác Hồ về thăm và nói chuyện với công nhân vùng mỏ năm 23/09/1958

Ông Trần Tử Trí, người thợ mỏ năm xưa biết nghề mộc, được giao nhiệm vụ cùng đồng bào làng Hẻo làm khu nhà tạm cho chuyên gia Liên Xô thời đó kể với chúng tôi: Năm 1955, ông Trần Ngọc Lạt, một trong số cán bộ chủ chốt lớp đầu tiên cùng 20 cán bộ được điều lên khảo sát mở lại mỏ, mấy tháng sau đoàn chuyên gia Xô Viết do Phó tiến sĩ Cammưcốp làm trưởng đoàn cũng tập kết về mỏ. Sau hoà bình, đường tàu chưa khôi phục xong, cả hai đoàn đều lội bộ theo đường sắt từ ga Yên Bái lên ga Làng Giàng rồi vào làng Hẻo.

Ban đầu ở nhờ nhà đồng bào, sau đó sửa lại khu nhà chỉ huy công trường cũ đã đổ nát để ở. Tổ của ông năm sau mới lên, lãnh đạo Mỏ giao làm những dãy nhà gỗ cho chuyên gia phía bên phải khu nhà Văn phòng, phía bên này làm hội trường nhìn xuống bãi đất rộng nơi thanh niên làm sân bóng đá, phía chân đồi để tăng gia rau xanh. Những lớp cán bộ, công nhân mang quyết tâm xây dựng lại mỏ ngày đầu là như vậy. Họ cũng là những người may mắn có được vinh dự đón Bác ngay tại nơi khó khăn gian khổ. Những lời Bác dặn, bước chân dép lốp bình dị Bác đi trên đất mỏ khôi phục mới hơn 3 năm còn đang bộn bề là sự cổ vũ lớn lao cho nhiều thế hệ những người thợ mỏ sau này.

Ông Trần Xuân Nam, nguyên Giám đốc mỏ, khi đó là một trong số cán bộ, công nhân được vinh dự đón Bác chỉ cho chúng tôi vị trí ga Gốc Đa xưa nằm ngay trước cửa Trạm bảo dưỡng 3 - Xí nghiệp vận tải cũ. Dấu tích các vơ - re - my còn lại là những trụ xây bằng đá, nơi đặt máng rót quặng xuống goòng đã xỉn mốc rêu phong do năm tháng.
Ga Gốc Đa và cây đa xưa không còn, khu đó do mở đường vào mỏ, ga được chuyển sát vào chân núi, bên kia đường bộ. Sau này qua nhiều lần khôi phục lại đoạn đường sắt Pom Hán - Làng Dạ - Mỏ Cóc, ga Mỏ Cóc đã thay thế vai trò lịch sử ga Gốc Đa vốn đã tồn tại mấy chục năm của thế kỷ trước. Con đường lên khai trường mỏ Cóc, vị trí nơi Bác từ trên xe Tatra bước xuống năm nào đã được xây dựng lại để mở rộng mỏ, đoạn đường sắt vào làng Pèng cũng đã dỡ bỏ.

Ga Mỏ Cóc ngày nay cũng đã lùi sát vào chân núi nơi khai trường mỏ Cóc xưa. Lần gần đây nhất ga được cải tạo nâng cấp vào năm 2006, công trình chào mừng đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng. Đường sắt thuộc Công ty Apatít Việt Nam nay đã vươn dài hơn 90 km, từ ga Pom Hán đã có thêm tuyến đường qua phường Bắc Lệnh, Nam Cường rồi ngược lên khai trường 17 sát Cốc San phục vụ cho yêu cầu phát triển của mỏ trong thời kỳ mới.

http://www.baolaocai.vn/UserFiles/Image/2010/t3/8/Mo-tuat.jpg
Bốc xúc tiêu thụ quặng Apatít ở ga Mỏ Cóc hiện nay

Khi đi điền dã, tìm chứng tích lịch sử, chúng tôi còn được biết thêm những chứng tích về một tuyến đường chở quặng đang bị lãng quên. Khi Nhật chiếm mỏ, chúng đã mở thêm tuyến đường chở quặng khai thác ở mỏ làng Mô, sau đó chở bằng xe goòng từ Trang Mường qua Hoà Lạc ra cửa ngòi Bo, đặt cáp tời kéo phà chở quặng bốc lên tàu tại ga Thái Niên (Tuyến đường này lúc CADer còn nhỏ khoảng năm 1981-1982 vẫn còn nguyên cả đường ray ). Đúng là khi có lợi nhuận cao, chủ nghĩa tư bản bất chấp tất cả, vắt kiệt sức công nhân để kiếm lợi nhuận.
Trở lại vị trí sân vận động, nơi Bác Hồ nói chuyện với trên một ngàn công nhân mỏ và đồng bào xã Cam Đường trưa 23 - 9 -1958. Con đường lên khu đồi giờ đã khác, chúng tôi đoán chừng vị trí khán đài, nơi đặt bàn có phủ khăn để Bác Hồ đứng nói chuyện ngày đó. Ông Trần Xuân Nam nguyên Giám đốc mỏ và ông Trần Tử Trí nguyên cán bộ văn phòng mỏ nhớ lại: Sàn được đắp cao khoảng 50 - 60 cm, vốn là sân khấu ở đầu sân vận động, đặt chiếc bàn làm việc bằng gỗ của Văn phòng mỏ có phủ khăn là tấm duy - đô trắng bình thường. Khán đài dựng ở sân vận động lúc đó làm bằng tre vầu, nơi tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao của mỏ mấy năm đầu, sau này mới chuyển về Pom Hán.
Tại cuộc gặp mặt Bác khen ngợi cán bộ, công nhân viên đã khắc phục khó khăn, nhanh chóng phục hồi Mỏ, để đi vào sản xuất và ổn định đời sống. Bác khen chị em phụ nữ đã làm được con đường lên tầng khai thác và Bác đặt tên con đường đó là "Con đường Phụ nữ". Bác quan tâm và nhắc nhở, Mỏ cần đẩy mạnh phong trào thi đua làm "nhiều, nhanh, tốt, rẻ" để làm giàu cho Tổ quốc. Bác lưu ý việc giữ gìn máy móc cho thật tốt, vì đây là mồ hôi, nước mắt của nhân dân Liên Xô và Trung Quốc giúp ta. Phải quan tâm quản lý xí nghiệp thật dân chủ. Công nhân phải xứng đáng là chủ của nhà máy, tham gia quản lý nhà máy, quý trọng bảo vệ của công.
Bác nhắc nhở Ban Giám đốc cần chăm lo hơn nữa việc tổ chức đời sống mới, đời sống vật chất và văn hoá của anh chị em công nhân, từ việc tăng gia sản xuất, trồng rau xanh, chăn nuôi, đến việc tưới nước trên đường đi lên Mỏ bớt bụi, giữ gìn sức khoẻ cho công nhân. Bác dặn đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, lúc đó công nhân đều trẻ, Bác nhắc thanh niên phải đi đầu trong sản xuất. Bác trao lại 5 cái Huy hiệu của Người để Giám đốc Nguyễn Văn Lang tặng lại cho những lao động xuất sắc nhất mỏ. Được biết, một trong số đó có bà Sương cấp dưỡng cho văn phòng mỏ, người công nhân lao động bình thường nhưng có trách nhiệm cao trước công việc, nhiều năm sau này bà Sương đã phấn đấu giữ vững danh hiệu chiến sĩ thi đua lao động xã hội chủ nghĩa.
Những kỷ niệm đó đã in dấu ấn đậm trong ký ức của hàng ngàn công nhân Mỏ, được kể lại cho lớp lớp công nhân sau này về truyền thống của mỏ Apatít Cam Đường. Sau cuộc gặp gỡ công nhân, Bác còn gặp riêng, dặn dò lãnh đạo mỏ tại Văn phòng và nghỉ trưa, chiều Người cùng phái đoàn Chính phủ lên tàu quay ra Cửa Ngòi, qua phà sang ga Làng Giàng để ngược tàu lên Lào Cai.
Ông Nam chọn tìm lại vị trí mà cách đây 50 năm, bồi hồi nhớ lại giây phút cùng số thanh niên ưu tú được vinh dự tham gia cuộc mít tinh, cố kiễng chân để được ngắm Bác rõ hơn. Chúng tôi thì ngước nhìn lên tầng thu vào máy ảnh những chấm phá về đổi thay của mỏ, nuối tiếc những dấu ấn lịch sử, những điểm Bác đã dừng chân năm xưa không được ghi lại bằng bia hay trên tấm sơ đồ. Chúng ta đang có lỗi với lịch sử và với Bác.

CADer
04-09-2010, 11:49 PM
Kỳ IV: NHỚ VỀ MỘT THỜI GA LÀNG GIÀNG VÀ GA PHỐ MỚI

Chúng tôi đi tìm hiểu tiếp lịch trình nửa thế kỷ trước, Bác và phái đoàn Chính phủ từ mỏ ra ga Làng Giàng, lên chuyến tàu đặc biệt để lên Lào Cai.Theo những tư liệu lịch sử và qua một số cán bộ, công nhân cao tuổi, sau bao năm xây dựng đến tuổi xế chiều vẫn trụ lại ở mỏ kể lại. Sau khi gặp gỡ cán bộ, công nhân mỏ và đồng bào xã Cam Đường, Bác về Văn phòng mỏ nghỉ, đầu giờ chiều mới lên tàu ra Cửa Ngòi, qua phà sang ga Làng Giàng để lên Lào Cai.

Do mới hoà bình ba năm, việc bảo vệ đoàn là rất nghiêm ngặt. Chiếc xe con duy nhất của tỉnh lúc đó mang biển số H5B - 511, được lệnh từ Lào Cai theo đường 109 xuống Cam Đường vào mỏ để đón Bác, nhưng đến giờ chót, Bác và đoàn lại lên tàu chở quặng ban sáng, ra Làng Giàng và lên tàu 424 đang chờ tại đầu ghi. Đoàn tàu ngược xuất phát lúc đó khoảng hơn 16h.

Ga Làng Giàng được làm hồi đầu thế kỷ XX. Trước đó đoạn sông Hồng chảy qua đây vốn là vùng cửa ngõ của phố Lão Nhai, cận kề với cửa ải nên đã được Đoàn thám hiểm sông Mê Kông của Pháp ở Côn Minh do Frăngxít Gácniê tổ chức nhiều đợt thăm dò.
Vào những năm 1871 - 1885, Giăng Duypuy, một nhà tư sản mại bản Pháp buôn bán vũ khí có tiếng tăm, được tướng Mã Như Long ở Vân Nam tin tưởng đặt hàng cung cấp số lượng lớn vũ khí cho quân đội, sau nhiều chuyến đi đã vẽ lên bản đồ lưu vực sông Hồng, trong đó có vùng này. Ông cũng là người am hiểu về phong tục tập quán và văn hoá phương Đông, say mê thám hiểm và có nhiều ghi chép nghiên cứu về lịch sử Lào Cai được công bố trong Công báo Đông Dương sau này.
Việc tổ chức khảo sát để xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX, năm 1900 thì cơ bản xong, tháng 8/1901 Công ty hoả xa Đông Dương và Vân Nam thuộc Pháp được thành lập với số vốn ban đầu 12,5 triệu Frăng bắt tay vào việc xây dựng.

Với phương thức làm đường cuốn chiếu, đường làm đến đâu, sử dụng ngay tới đó, thu hồi vốn nhanh. Sau khi tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội được đưa vào sử dụng đã tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, hoàn thành ngày 1/2/1906 và bốn năm sau vào ngày 1/4/1910 hoàn thành tuyến còn lại Lào Cai - Côn Minh 469 km.
Đường sắt làm tới Làng Giàng vào cuối năm 1904, năm sau thì xây ga, Làng Giàng cách ga Lào Cai 13 km, khi mở đường lên Lào Cai, khu vực này vốn là khu tập kết vật tư ban đầu, năm sau đường tàu mở đến gần sát biên giới thì Phố Mới với vị trí cách Lào Cai 2km thuận lợi hơn, hình thành ga và trở thành khu tập kết vật tư mới quan trọng, ga quá cảnh cho đến ngày nay.
Ga Làng Giàng trước năm 1939 chỉ là ga xép, từ năm 1940 khi tuyến đường goòng từ Làng Hẻo ra Cửa Ngòi được mở và đường cáp tời kéo phà qua sông làm xong, ga bỗng nhiên đông vui nhộn nhịp hẳn lên. Khu ga không chỉ có công nhân đường sắt mà còn có thêm đội ngũ phu kéo phà và bốc quặng lên tàu hàng trăm người.
Thời điểm đông công nhân nhất là thời kỳ làm cầu Làng Giàng. Ga Làng Giàng gắn liền với quá trình thăng trầm lịch sử và sự phát triển của mỏ Apatít Cam Đường mấy chục năm của thế kỷ trước. Tiếc rằng đoạn đường tàu từ chợ Làng Chiềng ra Cửa Ngòi bị bóc dỡ khi khôi phục Mỏ lần thứ II vào những năm tám mươi của thế kỷ trước.
Ngày nay, lớp trẻ trong đó có cả những kỹ sư ngành cầu đường Lào Cai ít người biết rằng đã từng có đoạn đường sắt một thời hối hả đưa những đoàn tàu chở quặng và sớm chiều từ Mỏ ra ga Làng Giàng đưa đón khách ngược, xuôi.


Tàu 424 lên ga Phố Mới lúc gần 17h, không dừng lại ga Phố Mới mà đi tiếp lên ga Lào Cai trên đó 2 km.
Phố Mới xưa là khu bãi bồi phù sa, nơi đây dân cư đã khai phá trồng cấy đông đúc, tiếng địa phương gọi là “Srac Mưới” hay khu chợ dưới gốc cây mõm bò. Khi quy hoạch khu ga Lào Cai, làm cầu Hồ Kiều, Pháp dãn khu dân cư, số đông người lao động trong đó có cả dân nghiệp đoàn ngựa thồ phố Tèo đành về đây sinh cơ lập nghiệp.

Những người nghèo khổ ban ngày lên làm thuê, chạy xe tay ở Lào Cai hoặc chợ Cốc Lếu bên kia sông, tối quay về đây nghỉ. Vợ con làm nông cung cấp thực phẩm và cả việc phục vụ vui chơi giải trí cho binh lính Pháp trong các nhà thổ, quán đêm. Nhà cửa dần sầm uất, đường sắt làm đến đây, nơi này trở thành khu tập kết vật tư cho việc xây dựng cầu Hồ Kiều, trạm quá cảnh của các chuyến hàng hoá trước khi chuyển sang Hà Khẩu, Trung Quốc.

Tên phố Mới để phân biệt với phố cổ Lào Cai, sau này có trạm sửa chữa, duy tu tàu hoả gọi là đề - pô Phố Mới nổi tiếng trên hành trình tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh, tên phố dần thành quen và tên ga trùng với tên phố. Ga Phố Mới được làm trước ga Lào Cai, là ga xép cách ga Lào Cai 2 km, tại km 293 + 586, trước năm 1979 tàu chỉ đỗ ít phút.
Sau khi khôi phục đoạn đường sắt Lu - Phố Mới sau 14 năm gián đoạn do chiến tranh biên giới, từ ngày 15 - 8 - 1993 nơi này trở thành điểm dừng cho các đoàn tàu từ xuôi lên.

Năm 1994, sau khi thông xe lại cầu Hồ Kiều, đường sắt sang Hà Khẩu thông suốt, tên ga Phố Mới xưa trở thành tên ga Lào Cai, từ năm 1996 khi có hiệp định vận chuyểnđường sắt Việt - Trung mang tên ga liên vận quốc tế Lào Cai để thông báo cho khách du lịch, còn cửa ga vẫn đề GA LÀO CAI. Như vậy, tên ga Phố Mới trong biển hiệu, ghi trong vé tàu tồn tại trên tám mươi năm.

Thời Pháp vé tàu có 3 hạng, in giấy kích cỡ khác nhau, sau này ngành Đường sắt Việt Nam bán cho khách đi tàu chỉ một loại, chiếc vé làm bằng bìa các tông hình chữ nhật đơn giản dài hơn ngón tay, khách mua vé, nhà tàu dập ngày tháng chìm vào vé. Khách không may nhỡ tàu ở ga Lào Cai, vội đạp xe xuôi xuống vẫn kịp lên tàu ở ga Phố Mới. Nhiều người vẫn nhớ về một ga Phố Mới xưa và việc đi tàu thời bao cấp với bao kỷ niệm.

http://i595.photobucket.com/albums/tt32/HOADAOTET/IMG_6242.jpg
http://i595.photobucket.com/albums/tt32/HOADAOTET/IMG_6247-1.jpg
Ga Lào Cai hiện nay được xây lại đúng vị trí Ga Phố Mới ngày xưa.

Ga Lào Cai cũ giờ đây không còn, đường tàu vẫn thế, lối rẽ vào con đường nhỏ trước đây từ ga lên đồi C117, nơi cơ quan Tỉnh uỷ làm việc những ngày đầu sau giải phóng không còn, đường nhỏ đã bị san gạt để làm khu kho bãi hàng hoá. Muốn lên đỉnh đồi, nơi nhà máy nước hiện nay đã có con đường bê tông mới.
Trời chiều, chúng tôi đứng ngắm mãi thành phố đã đổi thay, nghe đâu đây tiếng vọng xưa bước chân Người. Và liên tưởng tới năm 1940, khi Bác đã về đến Côn Minh, chỉ đạo cách mạng vào thời khắc quyết định, không biết Người có kế hoạch xuôi tàu về bên kia Hà Khẩu lúc đó gọi là Phòng Thành để ngắm nhìn tổ quốc hay không. Chỉ biết rằng, sau đó Chi bộ đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động trên tuyền đường sắt Hà Nội - Côn Minh đã bắt mối liên lạc, báo cáo Trung ương đưa đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng ngược tàu Lào Cai lên Côn Minh nhận chỉ thị của Bác.

Sau này với bao bộn bề công việc, nhưng Bác luôn nhớ đến Lào Cai qua việc ghi thư thông báo nước nhà độc lập tháng 10/1945, thư cho các cháu Ba Xã (Sa Pa) năm 1946, thư gửi thương binh và bá hộ sau trân công đồn Nghĩa Đô, Phố Lu trong chiến dịch biên giới năm 1950. Và 18 năm sau, chiều 23 - 9 - 1958, Người mới đặt chân trên mảnh đất địa đầu Tây Bắc này.

Lào Cai đang đổi thay, những lời Bác dặn 50 năm trước đã thành hiện thực, Biên cương giờ đây luôn nồng ấm, năng động trong hội nhập và bước tiếp sang trang sử 100 năm mới.

sakuraluu
04-10-2010, 07:19 AM
Chủ đề của bác này hay thật, Bác Hồ với đường sắt có nhiều kỷ niệm lắm, chúng ta sẽ dần tìm kỷ niệm của bác với Đường sắt, trong cuốn lịch sử Đường sắt Việt nam cũng có một số hình ảnh nổi bật về bác:
1. Bác Hồ đi trên tàu từ Hải Phòng về
2. Các tấm ảnh về Bác khi thăm công trình khôi phục tuyến đi Mục Nam Quan (nay là tuyến Hà nội-Đồng Đăng)
3. Vài hình ảnh khác nữa, chúng ta cố gắng tìm và update ở đây nhé