sakuraluu
03-23-2009, 03:28 PM
Sau khi Hà Nội được tiếp quản năm 1954, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ cấp cao của Chính phủ đã đi tàu hoả từ Hà Nội lên thăm Lào Cai, Yên Bái. Ít ai biết được, để phục vụ chuyến tàu chở Bác năm đó, đã có đến 3 tài xế và 6 phụ xế thay nhau làm việc liên tục 3 ngày 2 đêm trong suốt quãng đường Hà Nội - Lào Cai. Đã 47 năm trôi qua, những người lái tàu đó người còn người mất, may mắn tôi đã được gặp 2 trong số 9 người đã lái chuyến tàu đó. Đó là các ông Đặng Văn Cửu và Trần Thăng Nhã.
Các ông cũng đã già lắm rồi, đều đã ở độ tuổi "xưa nay hiếm". Ông Cửu đã 84 tuổi, còn ông Nhã cũng đã bước sang tuổi 71, nhưng cả hai ông vẫn còn khoẻ và khá minh mẫn. Khi được hỏi về chuyện cũ, mặc dù ông Cửu luôn miệng nói: "Lâu quá rồi, tôi cũng già rồi, nhớ được bao nhiêu thì kể cho cô nghe bấy nhiêu", nhưng những gì hai ông kể lại khá chi tiết và rõ nét.
Tôi không nhớ chính xác vào ngày tháng nào, chỉ nhớ rằng cũng vào dịp mùa thu như thế này năm 1958, anh em chúng tôi đang chạy tàu liên vận thì nhận được lệnh của cấp trên dừng chạy tàu, ở lại ga để sửa chữa và bảo dưỡng tàu, chuẩn bị cho "ngày hội". Hơn một tháng trời nằm lại ga Hà Nội, chúng tôi lau chùi, sửa chữa từng con ốc vít của chiếc đầu máy PRAIRI 419. Trước hôm lên đường một ngày, chúng tôi được công đoàn cấp phiếu phát cho 9 bộ quần áo, 9 chiếc mũ, 9 đôi găng tay, giám đốc nói để đi việc "đặc biệt". Đến ngày hôm sau, giám đốc mới nói nhỏ với chúng tôi: "Hôm nay các cậu "kéo" Bác Hồ đấy, phải rất cẩn trọng, luôn có tinh thần bảo vệ lãnh tụ". Tất cả anh em chúng tôi đều rất bất ngờ.
9 người tham gia lái tàu chở Bác năm đó là các ông tài xế Ngô Văn Thị (đã mất), Nguyễn Văn Thêm, Đặng Văn Cửu và các phụ lái Văn Tấn Truyền, Lưu Văn Bá, Nguyễn Văn Lứ (đã mất), Trần Thăng Nhã, Nguyễn Chí Chơn và Nguyễn Văn Trao. 9 người chia thành 3 ban thay nhau lái tàu liên tục từ Hà Nội lên Lào Cai và về Yên Bái. Có một điều đặc biệt là những người tổ chức khi chọn tổ lái đã có ý chọn những người đại diện cho 3 miền Bắc - Trung - Nam: Ông Thị, ông Truyền, ông Lứ là người miền Trung; ông Thêm, ông Chơn, ông Trao là người miền Nam; ông Bá, ông Nhã, ông Cửu là người miền Bắc. Ông Nhã bảo: "Tất cả 9 anh em chúng tôi đều đã tham gia kháng chiến chống Pháp, sau khi hoà bình lập lại mới trở về ngành đường sắt và cùng lái các chuyến tàu liên vận ở miền Bắc".
´ Các ông đón Bác từ ga Hà Nội?
- Không, Bác không lên ga Hà Nội, chúng tôi chạy tàu từ ga Hà Nội qua sông Đuống, đến gần ga Yên Viên thì được lệnh dừng lại. Chúng tôi nhìn thấy một đoàn xe ôtô đen đi trên đường cái, bảo nhau: "Cụ đấy". Nhưng Cụ cũng không lên ga Yên Viên mà đi qua ruộng mía chỗ đầu ghi phía Hà Nội của ga Yên Viên và lên tàu ở ngay chỗ đó. Bác nằm một toa riêng do Trung Quốc tặng, bên trong trải thảm màu xanh, chỉ có một chiếc giường, một cái bàn, 4 cái ghế bành và một ghế băng.
Trong suốt chặng đường từ Hà Nội lên Lào Cai, cứ thỉnh thoảng lại có một tốp bộ đội đứng gác bên đường ray để đảm bảo an toàn. Từ khi được lái tàu đến giờ, tôi thấy chưa có chuyến đi nào mà vấn đề an toàn lại được đặt lên hàng đầu như thế. Tôi còn nhớ, đến các điểm tiếp nước, thêm than, thông thường anh em tài xế chúng tôi tự làm, nhưng trong chuyến đi này các việc đó đều do cảnh vệ làm hết. Một cục than trước khi cho vào lò phải được đập làm đôi, làm tư, làm tám để xem có chất nổ ở bên trong hay không.
´ Trong suốt chuyến đi, các ông có được gặp Bác thường xuyên?
- Trên buồng máy luôn có 3 người lái và một cán bộ cấp cao để chỉ đạo tài xế. Những lúc không phải lên buồng máy, chúng tôi tụ tập tại toa nghỉ ngơi, đọc sách báo. Trong mấy ngày lái tàu, hôm nào Bác cũng đến nói chuyện với anh em chúng tôi vào lúc sáng sớm và chiều tối. Cụ thường mặc bộ quần áo màu cánh gián, nói chuyện thân mật, coi chúng tôi như con cháu trong nhà. Buồn cười nhất là khi không có Bác, anh nào cũng hùng hổ: "Hôm nay Bác hỏi chuyện để tớ trả lời", nhưng khi được Bác hỏi thăm, anh nào cũng tịt, chẳng ai nói được câu nào. Bác cũng chỉ hỏi chuyện gia đình, công việc thôi, nhưng không hiểu sao khi ngồi gần Bác, chúng tôi lại chẳng ai nói được, chỉ biết chăm chăm nhìn và nghe Bác nói thôi.
Bác còn xuống toa nấu nướng, hỏi đầu bếp xem anh em được ăn như thế nào, đầu bếp nói với Bác: "Thưa Bác, cán bộ được ăn 4 hào/suất, còn anh em công nhân ăn 3 hào". Bác cười bảo: "Cán bộ bụng to được ăn 4 hào, công nhân bụng bé nên chỉ được ăn 3 hào".
Chúng tôi đưa Bác từ Hà Nội lên Lào Cai, Bác làm việc xong lại đưa về nghỉ ở ga Phố Mới, cuối cùng quay về Yên Bái và Bác đi ôtô về Hà Nội. Khi tàu dừng ở ga Yên Bái, tất cả anh em chúng tôi nhóng hết cổ ra phía cuối tàu, nơi có toa xe của Bác để nhìn Bác xuống ga, nhưng Bác lại không xuống ở cuối toa mà đi qua các toa lên đến gần đầu máy và xuống ở đó. Chúng tôi đang ngơ ngác thì Bác đã bước xuống rồi. Bác đến gần, bắt tay và nói với chúng tôi: "Cảm ơn các chú đã đưa Bác từ Hà Nội lên Lào Cai rồi lại về Yên Bái an toàn. Bác mong các chú luôn "thương máy như con, quý dầu như máu", có tinh thần tiết kiệm và đoàn kết, gắn bó với nhau". Bác rút ra 9 cái huy hiệu Bác Hồ tặng cho 9 anh em chúng tôi. Đây là kỷ vật duy nhất mà chúng tôi có được từ chuyến đưa Bác đi năm đó.
Đó là ngày 23.9.1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ cấp cao của Chính phủ đi tàu hoả từ Hà Nội lên Lào Cai thăm thị xã Cam Đường, Nhà máy Apatit Lào Cai - một điển hình tiên tiến của toàn miền Bắc, Nhà máy Điện Lào Cai và nói chuyện với nhân dân ở bãi đá bóng Yên Bái. Chiếc đầu máy xe lửa kéo Bác năm đó là đầu máy hơi nước loại nhỏ hiệu PRAIRI 419 của Trung Quốc. Ông Nhã bảo, khi rút lui, quân Pháp có để lại nhà ga Hà Nội mấy đầu máy rất hiện đại nhưng không sử dụng được vì đoạn đường sắt Hà Nội - Lào Cai là đường mới làm lại.
Đoạn đường này có rất nhiều khúc quanh, đầu máy to không thể đi được, chỉ có thể dùng đầu máy nhỏ. Đường sắt này vốn dĩ có từ thời Pháp thuộc nhưng khi toàn quốc kháng chiến nó đã bị phá huỷ hoàn toàn. Sau khi hoà bình lập lại, đoạn đường này mới được làm lại và chuyến đi của Bác là chuyến đi đầu tiên lên các tỉnh miền núi phía bắc sau khi Hà Nội được tiếp quản. Ông Nhã kể, đi đường hồi đó khổ lắm vì tất cả các nhà ga, điểm báo đều không có điện, chỉ treo đèn dầu báo hiệu, anh em phải căng mắt ra để nhìn. Vận tốc tối đa của đoàn tàu tại những đoạn đường tốt là 40 - 45km/h, còn lại chỉ được phép đi 30km/h.
Khi được hỏi, điều gì các ông nhớ nhất trong chuyến đi năm đó, ông Nhã bùi ngùi nói: "Tôi nhớ nhất là hình ảnh Bác đi len lỏi qua ruộng mía, khi đến toa thì nền đường sắt đã cao, bậc toa còn cao hơn, đến ngang ngực Bác mà lại không có ke để Bác bước lên. Anh em cảnh vệ phải đỡ Bác bên dưới, chúng tôi bên trên đỡ Bác vào toa. Tôi chưa thấy có một vị Chủ tịch Nước nào mà lại vất vả như thế".
Còn ông Cửu thì cười: "Tôi được nhìn thấy Bác ba lần, thêm một lần nữa tại sân đá bóng Yên Bái khi Bác đến nói chuyện, lúc đó tôi cũng đến nghe mà. Lần nào cũng thấy Cụ thật giản dị và gần gũi, nhìn bên ngoài, không ai nghĩ rằng đó là một vị Chủ tịch Nước. Có một chuyện mà đến bây giờ nhớ lại tôi vẫn thấy vui, đó là khi tàu từ Yên Bái về Hà Nội, khi đi qua một ga nhỏ, tôi không còn nhớ tên, có một phụ nữ người Mường nghe tin đây là đoàn tàu Bác đi, đã mang đến biếu Bác một quả đu đủ rất to, phải to bằng cái ấm giỏ. Nhưng họ có biết đâu là Bác đã đi về bằng ôtô rồi. Thế mới biết tấm lòng của nhân dân đối với lãnh tụ thắm thiết như thế nào". Ông Cửu tiết lộ thêm:
- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được đưa Bác đi. Tôi còn nhớ đó là năm 1945, tôi mới hơn 20 tuổi, chưa được làm tài xế, chỉ là phụ lái thôi, có nhiệm vụ xúc than vào lò. Tôi đã được đi cùng ông tài Thảo, ông Nhân (bây giờ các ông đã mất cả rồi) trên chuyến tàu đưa Bác từ Hải Dương về Hà Nội. Sự việc đã qua lâu lắm rồi nhưng tôi vẫn còn nhớ.
Đã 47 năm trôi qua, vật duy nhất mà những người lái tàu còn giữ được chỉ là chiếc huy hiệu Bác Hồ đã cũ dần theo năm tháng. Ông Cửu buồn buồn nói: "Chúng tôi là những người trực tiếp đưa Bác đi năm đó, có thế nào tôi kể lại như thế. Thế nhưng trong cuốn "55 năm lịch sử Đường sắt Việt Nam" họ viết sai, sai cả về số hiệu đầu máy, số người lái tàu, cả địa điểm Bác lên tàu. Chúng tôi già rồi, nghỉ hưu mấy chục năm rồi, bây giờ chẳng biết nói với ai để chỉnh sửa lại! Tôi chỉ mong đã là lịch sử thì phải trân trọng và chính xác".
(Báo Lao Động)
Các ông cũng đã già lắm rồi, đều đã ở độ tuổi "xưa nay hiếm". Ông Cửu đã 84 tuổi, còn ông Nhã cũng đã bước sang tuổi 71, nhưng cả hai ông vẫn còn khoẻ và khá minh mẫn. Khi được hỏi về chuyện cũ, mặc dù ông Cửu luôn miệng nói: "Lâu quá rồi, tôi cũng già rồi, nhớ được bao nhiêu thì kể cho cô nghe bấy nhiêu", nhưng những gì hai ông kể lại khá chi tiết và rõ nét.
Tôi không nhớ chính xác vào ngày tháng nào, chỉ nhớ rằng cũng vào dịp mùa thu như thế này năm 1958, anh em chúng tôi đang chạy tàu liên vận thì nhận được lệnh của cấp trên dừng chạy tàu, ở lại ga để sửa chữa và bảo dưỡng tàu, chuẩn bị cho "ngày hội". Hơn một tháng trời nằm lại ga Hà Nội, chúng tôi lau chùi, sửa chữa từng con ốc vít của chiếc đầu máy PRAIRI 419. Trước hôm lên đường một ngày, chúng tôi được công đoàn cấp phiếu phát cho 9 bộ quần áo, 9 chiếc mũ, 9 đôi găng tay, giám đốc nói để đi việc "đặc biệt". Đến ngày hôm sau, giám đốc mới nói nhỏ với chúng tôi: "Hôm nay các cậu "kéo" Bác Hồ đấy, phải rất cẩn trọng, luôn có tinh thần bảo vệ lãnh tụ". Tất cả anh em chúng tôi đều rất bất ngờ.
9 người tham gia lái tàu chở Bác năm đó là các ông tài xế Ngô Văn Thị (đã mất), Nguyễn Văn Thêm, Đặng Văn Cửu và các phụ lái Văn Tấn Truyền, Lưu Văn Bá, Nguyễn Văn Lứ (đã mất), Trần Thăng Nhã, Nguyễn Chí Chơn và Nguyễn Văn Trao. 9 người chia thành 3 ban thay nhau lái tàu liên tục từ Hà Nội lên Lào Cai và về Yên Bái. Có một điều đặc biệt là những người tổ chức khi chọn tổ lái đã có ý chọn những người đại diện cho 3 miền Bắc - Trung - Nam: Ông Thị, ông Truyền, ông Lứ là người miền Trung; ông Thêm, ông Chơn, ông Trao là người miền Nam; ông Bá, ông Nhã, ông Cửu là người miền Bắc. Ông Nhã bảo: "Tất cả 9 anh em chúng tôi đều đã tham gia kháng chiến chống Pháp, sau khi hoà bình lập lại mới trở về ngành đường sắt và cùng lái các chuyến tàu liên vận ở miền Bắc".
´ Các ông đón Bác từ ga Hà Nội?
- Không, Bác không lên ga Hà Nội, chúng tôi chạy tàu từ ga Hà Nội qua sông Đuống, đến gần ga Yên Viên thì được lệnh dừng lại. Chúng tôi nhìn thấy một đoàn xe ôtô đen đi trên đường cái, bảo nhau: "Cụ đấy". Nhưng Cụ cũng không lên ga Yên Viên mà đi qua ruộng mía chỗ đầu ghi phía Hà Nội của ga Yên Viên và lên tàu ở ngay chỗ đó. Bác nằm một toa riêng do Trung Quốc tặng, bên trong trải thảm màu xanh, chỉ có một chiếc giường, một cái bàn, 4 cái ghế bành và một ghế băng.
Trong suốt chặng đường từ Hà Nội lên Lào Cai, cứ thỉnh thoảng lại có một tốp bộ đội đứng gác bên đường ray để đảm bảo an toàn. Từ khi được lái tàu đến giờ, tôi thấy chưa có chuyến đi nào mà vấn đề an toàn lại được đặt lên hàng đầu như thế. Tôi còn nhớ, đến các điểm tiếp nước, thêm than, thông thường anh em tài xế chúng tôi tự làm, nhưng trong chuyến đi này các việc đó đều do cảnh vệ làm hết. Một cục than trước khi cho vào lò phải được đập làm đôi, làm tư, làm tám để xem có chất nổ ở bên trong hay không.
´ Trong suốt chuyến đi, các ông có được gặp Bác thường xuyên?
- Trên buồng máy luôn có 3 người lái và một cán bộ cấp cao để chỉ đạo tài xế. Những lúc không phải lên buồng máy, chúng tôi tụ tập tại toa nghỉ ngơi, đọc sách báo. Trong mấy ngày lái tàu, hôm nào Bác cũng đến nói chuyện với anh em chúng tôi vào lúc sáng sớm và chiều tối. Cụ thường mặc bộ quần áo màu cánh gián, nói chuyện thân mật, coi chúng tôi như con cháu trong nhà. Buồn cười nhất là khi không có Bác, anh nào cũng hùng hổ: "Hôm nay Bác hỏi chuyện để tớ trả lời", nhưng khi được Bác hỏi thăm, anh nào cũng tịt, chẳng ai nói được câu nào. Bác cũng chỉ hỏi chuyện gia đình, công việc thôi, nhưng không hiểu sao khi ngồi gần Bác, chúng tôi lại chẳng ai nói được, chỉ biết chăm chăm nhìn và nghe Bác nói thôi.
Bác còn xuống toa nấu nướng, hỏi đầu bếp xem anh em được ăn như thế nào, đầu bếp nói với Bác: "Thưa Bác, cán bộ được ăn 4 hào/suất, còn anh em công nhân ăn 3 hào". Bác cười bảo: "Cán bộ bụng to được ăn 4 hào, công nhân bụng bé nên chỉ được ăn 3 hào".
Chúng tôi đưa Bác từ Hà Nội lên Lào Cai, Bác làm việc xong lại đưa về nghỉ ở ga Phố Mới, cuối cùng quay về Yên Bái và Bác đi ôtô về Hà Nội. Khi tàu dừng ở ga Yên Bái, tất cả anh em chúng tôi nhóng hết cổ ra phía cuối tàu, nơi có toa xe của Bác để nhìn Bác xuống ga, nhưng Bác lại không xuống ở cuối toa mà đi qua các toa lên đến gần đầu máy và xuống ở đó. Chúng tôi đang ngơ ngác thì Bác đã bước xuống rồi. Bác đến gần, bắt tay và nói với chúng tôi: "Cảm ơn các chú đã đưa Bác từ Hà Nội lên Lào Cai rồi lại về Yên Bái an toàn. Bác mong các chú luôn "thương máy như con, quý dầu như máu", có tinh thần tiết kiệm và đoàn kết, gắn bó với nhau". Bác rút ra 9 cái huy hiệu Bác Hồ tặng cho 9 anh em chúng tôi. Đây là kỷ vật duy nhất mà chúng tôi có được từ chuyến đưa Bác đi năm đó.
Đó là ngày 23.9.1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ cấp cao của Chính phủ đi tàu hoả từ Hà Nội lên Lào Cai thăm thị xã Cam Đường, Nhà máy Apatit Lào Cai - một điển hình tiên tiến của toàn miền Bắc, Nhà máy Điện Lào Cai và nói chuyện với nhân dân ở bãi đá bóng Yên Bái. Chiếc đầu máy xe lửa kéo Bác năm đó là đầu máy hơi nước loại nhỏ hiệu PRAIRI 419 của Trung Quốc. Ông Nhã bảo, khi rút lui, quân Pháp có để lại nhà ga Hà Nội mấy đầu máy rất hiện đại nhưng không sử dụng được vì đoạn đường sắt Hà Nội - Lào Cai là đường mới làm lại.
Đoạn đường này có rất nhiều khúc quanh, đầu máy to không thể đi được, chỉ có thể dùng đầu máy nhỏ. Đường sắt này vốn dĩ có từ thời Pháp thuộc nhưng khi toàn quốc kháng chiến nó đã bị phá huỷ hoàn toàn. Sau khi hoà bình lập lại, đoạn đường này mới được làm lại và chuyến đi của Bác là chuyến đi đầu tiên lên các tỉnh miền núi phía bắc sau khi Hà Nội được tiếp quản. Ông Nhã kể, đi đường hồi đó khổ lắm vì tất cả các nhà ga, điểm báo đều không có điện, chỉ treo đèn dầu báo hiệu, anh em phải căng mắt ra để nhìn. Vận tốc tối đa của đoàn tàu tại những đoạn đường tốt là 40 - 45km/h, còn lại chỉ được phép đi 30km/h.
Khi được hỏi, điều gì các ông nhớ nhất trong chuyến đi năm đó, ông Nhã bùi ngùi nói: "Tôi nhớ nhất là hình ảnh Bác đi len lỏi qua ruộng mía, khi đến toa thì nền đường sắt đã cao, bậc toa còn cao hơn, đến ngang ngực Bác mà lại không có ke để Bác bước lên. Anh em cảnh vệ phải đỡ Bác bên dưới, chúng tôi bên trên đỡ Bác vào toa. Tôi chưa thấy có một vị Chủ tịch Nước nào mà lại vất vả như thế".
Còn ông Cửu thì cười: "Tôi được nhìn thấy Bác ba lần, thêm một lần nữa tại sân đá bóng Yên Bái khi Bác đến nói chuyện, lúc đó tôi cũng đến nghe mà. Lần nào cũng thấy Cụ thật giản dị và gần gũi, nhìn bên ngoài, không ai nghĩ rằng đó là một vị Chủ tịch Nước. Có một chuyện mà đến bây giờ nhớ lại tôi vẫn thấy vui, đó là khi tàu từ Yên Bái về Hà Nội, khi đi qua một ga nhỏ, tôi không còn nhớ tên, có một phụ nữ người Mường nghe tin đây là đoàn tàu Bác đi, đã mang đến biếu Bác một quả đu đủ rất to, phải to bằng cái ấm giỏ. Nhưng họ có biết đâu là Bác đã đi về bằng ôtô rồi. Thế mới biết tấm lòng của nhân dân đối với lãnh tụ thắm thiết như thế nào". Ông Cửu tiết lộ thêm:
- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được đưa Bác đi. Tôi còn nhớ đó là năm 1945, tôi mới hơn 20 tuổi, chưa được làm tài xế, chỉ là phụ lái thôi, có nhiệm vụ xúc than vào lò. Tôi đã được đi cùng ông tài Thảo, ông Nhân (bây giờ các ông đã mất cả rồi) trên chuyến tàu đưa Bác từ Hải Dương về Hà Nội. Sự việc đã qua lâu lắm rồi nhưng tôi vẫn còn nhớ.
Đã 47 năm trôi qua, vật duy nhất mà những người lái tàu còn giữ được chỉ là chiếc huy hiệu Bác Hồ đã cũ dần theo năm tháng. Ông Cửu buồn buồn nói: "Chúng tôi là những người trực tiếp đưa Bác đi năm đó, có thế nào tôi kể lại như thế. Thế nhưng trong cuốn "55 năm lịch sử Đường sắt Việt Nam" họ viết sai, sai cả về số hiệu đầu máy, số người lái tàu, cả địa điểm Bác lên tàu. Chúng tôi già rồi, nghỉ hưu mấy chục năm rồi, bây giờ chẳng biết nói với ai để chỉnh sửa lại! Tôi chỉ mong đã là lịch sử thì phải trân trọng và chính xác".
(Báo Lao Động)