danhbaduongsat
01-15-2011, 02:29 PM
Ký ức về Ga Huế
dudung | 24 October, 2009 08:54
Trên những con tàu Bắc Nam, những người Huế xa quê nôn nao được sớm vào ga Huế, để được bước xuống mảnh đất quê hương sau một chặng đường dài dằng dặc mưu sinh và duyên phận, để được vỡ oà trong tình thương và kỷ niệm. Rồi lại từ nơi ấy, bùi ngùi chia tay với Huế, để lại sau lưng nước mắt của mẹ già, ngôi nhà cổ tích, mái trường xưa và bạn bè, người yêu một thuở.
Ga Huế cũng như nhiều nơi trên cung đường thiên lý là một nơi luôn chứa đầy nụ cười và nước mắt, đoàn tụ và chia xa, là dấu ấn một thời của bao thế hệ học sinh, sinh viên suốt dải đất miền Trung và xa hơn thế nữa. Một cựu học sinh Quốc Học đến từ xứ Quảng những ngày nghỉ học thường lên ga Huế và ưu tư:
Tôi thấy lòng thương những chuyến tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vướng víu trong hơi máy
Cả mấy toa đầy nặng khổ đau
(Những ngày nghỉ học - Tế Hanh)
Tiếng còi tàu đã vọng đi tròn thế kỷ với bao thân phận, bao cuộc đời, bao kỷ niệm, lẫn trong tiếng súng, tiếng bom của chiến tranh, pháo hoa của đoàn tụ, tiếng pháo của giao hoà.
Bên đầu nguồn sông Lợi Nông sẻ chia mặn ngọt với dòng Hương có một ga tàu sẻ chia buồn vui, sướng khổ đời người. Sau sân ga bé nhỏ ấy là tuổi thơ cổ tích, là ký ức tình yêu của bao người xứ Huế ra đi, là những năm tháng đầy kỷ niệm tuổi học của bao thế hệ học sinh, sinh viên trên mọi miền đất nước một thời gắn bó vùng đất này. Một thế kỷ đã trôi qua...
Một thế kỷ với Huế nhưng trên toàn cõi Việt Nam, ngành vận tải đường sắt đã qua 125 năm tồn tại. Lịch sử ngành đường sắt gắn với lịch sử bi tráng của nước Việt.
Sau chén thuốc độc và tờ sớ chịu tội với triều đình của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản năm 1867, sáu tỉnh Nam kỳ rơi vào tay giặc Pháp. Tiếp đó, Tổng đốc Hoàng Diệu treo cổ tự tử trên thành Hà Nội khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai năm Nhâm Ngọ 1882. Và rồi pháo đại bác bắn vào cửa Thuận An, uy hiếp kinh đô, các quan trấn thành Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, các tướng quân Trần Thúc Nhẫn, Lâm Hoành nhảy xuống sông tự vẫn. Các hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 đã đặt quyền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam ! Những tuyến đường sắt đầu tiên được thiết lập mang dấu ấn của sự cai trị, dùng vào việc vận chuyển quân đội và vũ khí ở những vùng xương sống trọng yếu của các miền là Sài gòn - Mỹ Tho, Hà Nội - Phủ Lạng Thương ( Bắc Giang), Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn...
Năm 1897, Paul Doumer đến Việt Nam nhậm chức Toàn quyền Đông Dương. Một trong những việc làm đầu tiên của tân Toàn quyền là thuyết phục chính phủ Pháp cho vay 200 triệu Franc với dự án tổng thể xây dựng tuyến đường sắt Đông Dương. Trên tuyến đường sắt Hà Nội - Sài Gòn có đoạn Đông Hà - Đà Nẵng dài 171km được khảo sát từ năm 1899, khởi công vào năm 1902 và hoàn thành toàn tuyến năm 1908. Trước đó, ngày 15 tháng 12 năm 1906 từ Đà Nẵng, con tàu đầu tiên đã qua hầm Hải Vân đến Huế, mở đầu cho tuyến đường sắt quan trọng này. Hệ thống hầm đường sắt với 8 hầm xuyên dưới "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" là một công trình giao thông có dấu ấn hàng đầu thế kỷ XX.
Có thể nói với Huế, đồi Lịch Đợi là nơi chân dãy Trường Sơn vươn đến gần nhất đất kinh đô. Và dưới chân đồi nơi phường Đệ Bát ấy của thị xã Huế mới được thành lập, ga Huế được xây dựng nhìn ra sông Lợi Nông, nhìn về con đường Jules Ferry thẳng tắp bên dòng Hương Giang của phố Tây ở hữu ngạn sông Hương. Một thế kỷ, ga Huế là điểm bắt đầu và cũng là điểm kết thúc của con đường Jules Ferry - Lê Lợi, được gọi là con đường Áo trắng, con đường Học trò, con đường Tình yêu, con đường Long não...
Bây giờ, ga Huế là một trong những kiến trúc Pháp ít ỏi còn lại trên con đường huyền sử đó của xứ đẹp và thơ. Ngày trước, đó là một quần thể kiến trúc của dịch vụ đường sắt theo mô thức Âu châu với nhà ga đưa đón khách, tiếp nhận hàng hóa, các phòng làm việc, cơ xưởng hoả xa, khách sạn ga Huế...Ga Huế là một nhịp cầu nối liền các vùng miền trên dải đất hình chữ S Việt Nam, góp phần lớn vào sự phát triển của vùng đất nơi khúc ruột miền Trung này.
Dấu chân của bao người đã lưu lại nơi đây. Vua Duy Tân sau cuộc khởi nghĩa không thành năm 1916 đã bị đưa lên ga Huế, bắt đầu cuộc đày ải sang đảo Réunion, các vì vua cuối vương triều Nguyễn là Khải Định, Bảo Đại trong những chuyến đi về Pháp quốc, những chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và cả Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh trên đường vào Nam để ra đi tìm đường cứu nước, là đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những ngày làm học trò Quốc Học Huế..., là vua hề Charlie Chaplin, nhà văn Pháp nổi tiếng André Malraux, là vua Campuchia Sihanouk và hoàng hậu... Ga Huế là nơi khơi nguồn cảm hứng cho bao thi sĩ, nhất là nỗi buồn chia ly của một thời Thơ mới. Chính nơi này thi sĩ tài hoa Nguyễn Bính đã thấy:
Có lần tôi thấy một người đi
Không biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc chia ly
(Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính)
Một trong những sự kiện đón đưa lịch sử hào hùng nơi ga Huế diễn ra vào một ngày cuối tháng 9 năm 1945. Đoàn tàu đưa đoàn quân "Nam Tiến" vượt dòng Hương Giang trùng trùng tiến vào ga Huế giữa tiếng hô vang một góc trời Lịch Đợi. Đoàn tàu dừng lại khá lâu và người xứ Huế tiễn đưa chồng mình, con em mình trong đại đội đầu tiên của Chi đội Trần Cao Vân lên tàu nhập đoàn quân "Nam Tiến". Chan chứa tình đồng chí, nghĩa đồng bào, chan chứa niềm tự hào vì chồng con lên đường bởi sự tồn vong của tổ quốc nhưng trong một góc sâu nào đó cũng có những giọt lệ thầm khi nghĩ đến chiếc khăn sô có thể về trên đầu bạc mẹ già, người vợ trẻ, đứa con thơ...
Hiệp định Geneve chia cắt đất nước cũng là chia cắt con đường hỏa xa thiên lý. Hai năm để hoà hợp non sông trở thành 20 năm biền biệt chiến tranh, ly tán, những chuyến tàu qua mọi miền đất nước ngày nào trở thành phương tiện phục vụ chiến tranh. Vì vậy, cũng như khắp nơi trên toàn miền Nam, 1102 km đường sắt từ Đông Hà đến Sài Gòn cũng oằn mình dưới khói lửa bom đạn và thu ngắn dần theo thời gian kéo dài của cuộc chiến tranh. Tuyến tàu chợ Huế - Đà Nẵng thoi thóp trong hơi nóng của cuộc chiến ngày càng ác liệt. Vì một tai nạn trong thời niên thiếu, tôi cũng đã từng đi trên chuyến tàu xuyên hầm Hải Vân ấy.
Ngã ba Nam Giao, đường lên các lăng Tự Đức và Minh Mạng, cảnh sát luôn canh chừng "Việt Cộng" xâm nhập thành phố Huế. Một buổi chiều Nam Giao như bao buổi chiều khác, tôi đi học luyện thi vào lớp 6 trường nữ sinh trung học Đồng Khánh Huế. Trên đường về nhà qua ngã ba lúc trời chiều chạng vạng, tôi cùng các bạn qua đường khi một xe chở gỗ chạy qua. Súng nổ. Sau này tôi được biết, viên cảnh sát muốn bắn thủng lốp chiếc xe không dừng lại theo hiệu lệnh nhưng giữa trời chạng vạng, viên đạn vô tình đã xuyên thẳng vào tôi. Sau vài ngày nằm ở Bệnh viện Huế, tôi được lên tàu vào Bệnh viện Việt Đức ở Đà Nẵng chữa trị vết thương. Đó là chuyến đi tàu đầu tiên đầy ấn tượng trong đời.
Về sau, không có dịp đi tàu nhưng hầu như ngày nào tôi cũng vào sân ga Huế. Trước năm 1975, giao thông nội thị Huế và vùng phụ cận phần lớn bằng xe buýt, thường gọi là xe đò với bến đỗ trung tâm là chợ Đông Ba. Xe đò đánh số từ 1 đến 14, luân phiên chẵn lẻ các vùng phía Bắc và Nam sông Hương. Nhà ở vùng đồi Dương Xuân nên ngày ngày tôi theo xe Từ Đàm đến trường Đồng Khánh. Ga Huế ngoài là ga đường sắt còn là nơi đón và trả khách đến và đi từ sân bay Phú Bài. Vì vậy cũng như xe Long Thọ từ trên về, xe Từ Đàm xuống dốc không qua cầu Nam Giao mà đi vòng lên ga Huế đợi khách. Từ những ký ức ấy, ga Huế luôn gần gũi, thân thương trong tôi cũng như với mọi người.
Năm học ấy vắt qua cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Một chiều đi học tôi thấy cả rừng cờ hoa ngập sân ga Huế. Sau 30 năm gián đoạn, tuyến đường sắt xuyên Việt, huyết mạch Bắc Nam đã được khơi thông. Ngày cuối năm 1976, hai đoàn tàu Thống Nhất xuất phát từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyến tàu đi từ Hà Nội đến ga Huế lúc 7 giờ 20 phút ngày 2 tháng 1 năm 1977 và cùng ngày chuyến tàu đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến Huế lúc 17 giờ 06 phút.
Ngày ấy cũng đã hơn 30 năm rồi. 30 năm với biết bao nhiêu chuyện chuyển dời thế sự cũng như thân phận con người, bao ký ức đứng chật sân ga.
Bây giờ là đại diện của Công ty Dịch vụ Du lịch Đường sắt Hà Nội tại Huế, tôi thường đến ga tàu để đón và tiễn khách tham quan. Không còn là những "toa tàu nặng nỗi đau" nữa mà bây giờ là những toa tàu khá tiện nghi, phù hợp với du khách đường xa. Bao giờ cũng vậy, nghe tiếng còi tàu, lòng lại thấy nao nao.
Trên mọi miền ai có nhớ về sân ga một thuở. Nắng ấm phương Nam, mây mờ xứ Bắc vần vũ trên đỉnh Hải Vân, rơi vào từng khoang tàu cho ai dặt dìu thêm nỗi nhớ quê nhà, cho ai dằng dặc thêm một tình yêu đã xa, đau đáu nỗi niềm.
Bao bước chân sẽ bước về bến cũ để vỡ oà kỷ niệm một thời. Cũng như mỗi lần Tết đến, tàu đỗ sân ga cho ai bước vào khu vườn, mái nhà xưa xứ Huế.
Rồi một năm mới sẽ qua, một thập niên cũng qua. Ngày mai phát triển, vì giao thông nội thị, vì qui hoạch, biết đâu ga Huế mới sẽ được xây dựng ở ngoại thành. Dù vậy thì ga Huế với sứ mệnh lịch sử của mình xứng đáng là di tích lịch sử văn hóa quốc gia trong lòng thành phố di sản, xứng đáng ở lại mãi mãi với đất cố đô này như đã ở trong ký ức mọi người một thế kỷ đã qua.
dudung | 24 October, 2009 08:54
Trên những con tàu Bắc Nam, những người Huế xa quê nôn nao được sớm vào ga Huế, để được bước xuống mảnh đất quê hương sau một chặng đường dài dằng dặc mưu sinh và duyên phận, để được vỡ oà trong tình thương và kỷ niệm. Rồi lại từ nơi ấy, bùi ngùi chia tay với Huế, để lại sau lưng nước mắt của mẹ già, ngôi nhà cổ tích, mái trường xưa và bạn bè, người yêu một thuở.
Ga Huế cũng như nhiều nơi trên cung đường thiên lý là một nơi luôn chứa đầy nụ cười và nước mắt, đoàn tụ và chia xa, là dấu ấn một thời của bao thế hệ học sinh, sinh viên suốt dải đất miền Trung và xa hơn thế nữa. Một cựu học sinh Quốc Học đến từ xứ Quảng những ngày nghỉ học thường lên ga Huế và ưu tư:
Tôi thấy lòng thương những chuyến tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vướng víu trong hơi máy
Cả mấy toa đầy nặng khổ đau
(Những ngày nghỉ học - Tế Hanh)
Tiếng còi tàu đã vọng đi tròn thế kỷ với bao thân phận, bao cuộc đời, bao kỷ niệm, lẫn trong tiếng súng, tiếng bom của chiến tranh, pháo hoa của đoàn tụ, tiếng pháo của giao hoà.
Bên đầu nguồn sông Lợi Nông sẻ chia mặn ngọt với dòng Hương có một ga tàu sẻ chia buồn vui, sướng khổ đời người. Sau sân ga bé nhỏ ấy là tuổi thơ cổ tích, là ký ức tình yêu của bao người xứ Huế ra đi, là những năm tháng đầy kỷ niệm tuổi học của bao thế hệ học sinh, sinh viên trên mọi miền đất nước một thời gắn bó vùng đất này. Một thế kỷ đã trôi qua...
Một thế kỷ với Huế nhưng trên toàn cõi Việt Nam, ngành vận tải đường sắt đã qua 125 năm tồn tại. Lịch sử ngành đường sắt gắn với lịch sử bi tráng của nước Việt.
Sau chén thuốc độc và tờ sớ chịu tội với triều đình của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản năm 1867, sáu tỉnh Nam kỳ rơi vào tay giặc Pháp. Tiếp đó, Tổng đốc Hoàng Diệu treo cổ tự tử trên thành Hà Nội khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai năm Nhâm Ngọ 1882. Và rồi pháo đại bác bắn vào cửa Thuận An, uy hiếp kinh đô, các quan trấn thành Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, các tướng quân Trần Thúc Nhẫn, Lâm Hoành nhảy xuống sông tự vẫn. Các hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 đã đặt quyền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam ! Những tuyến đường sắt đầu tiên được thiết lập mang dấu ấn của sự cai trị, dùng vào việc vận chuyển quân đội và vũ khí ở những vùng xương sống trọng yếu của các miền là Sài gòn - Mỹ Tho, Hà Nội - Phủ Lạng Thương ( Bắc Giang), Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn...
Năm 1897, Paul Doumer đến Việt Nam nhậm chức Toàn quyền Đông Dương. Một trong những việc làm đầu tiên của tân Toàn quyền là thuyết phục chính phủ Pháp cho vay 200 triệu Franc với dự án tổng thể xây dựng tuyến đường sắt Đông Dương. Trên tuyến đường sắt Hà Nội - Sài Gòn có đoạn Đông Hà - Đà Nẵng dài 171km được khảo sát từ năm 1899, khởi công vào năm 1902 và hoàn thành toàn tuyến năm 1908. Trước đó, ngày 15 tháng 12 năm 1906 từ Đà Nẵng, con tàu đầu tiên đã qua hầm Hải Vân đến Huế, mở đầu cho tuyến đường sắt quan trọng này. Hệ thống hầm đường sắt với 8 hầm xuyên dưới "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" là một công trình giao thông có dấu ấn hàng đầu thế kỷ XX.
Có thể nói với Huế, đồi Lịch Đợi là nơi chân dãy Trường Sơn vươn đến gần nhất đất kinh đô. Và dưới chân đồi nơi phường Đệ Bát ấy của thị xã Huế mới được thành lập, ga Huế được xây dựng nhìn ra sông Lợi Nông, nhìn về con đường Jules Ferry thẳng tắp bên dòng Hương Giang của phố Tây ở hữu ngạn sông Hương. Một thế kỷ, ga Huế là điểm bắt đầu và cũng là điểm kết thúc của con đường Jules Ferry - Lê Lợi, được gọi là con đường Áo trắng, con đường Học trò, con đường Tình yêu, con đường Long não...
Bây giờ, ga Huế là một trong những kiến trúc Pháp ít ỏi còn lại trên con đường huyền sử đó của xứ đẹp và thơ. Ngày trước, đó là một quần thể kiến trúc của dịch vụ đường sắt theo mô thức Âu châu với nhà ga đưa đón khách, tiếp nhận hàng hóa, các phòng làm việc, cơ xưởng hoả xa, khách sạn ga Huế...Ga Huế là một nhịp cầu nối liền các vùng miền trên dải đất hình chữ S Việt Nam, góp phần lớn vào sự phát triển của vùng đất nơi khúc ruột miền Trung này.
Dấu chân của bao người đã lưu lại nơi đây. Vua Duy Tân sau cuộc khởi nghĩa không thành năm 1916 đã bị đưa lên ga Huế, bắt đầu cuộc đày ải sang đảo Réunion, các vì vua cuối vương triều Nguyễn là Khải Định, Bảo Đại trong những chuyến đi về Pháp quốc, những chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và cả Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh trên đường vào Nam để ra đi tìm đường cứu nước, là đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những ngày làm học trò Quốc Học Huế..., là vua hề Charlie Chaplin, nhà văn Pháp nổi tiếng André Malraux, là vua Campuchia Sihanouk và hoàng hậu... Ga Huế là nơi khơi nguồn cảm hứng cho bao thi sĩ, nhất là nỗi buồn chia ly của một thời Thơ mới. Chính nơi này thi sĩ tài hoa Nguyễn Bính đã thấy:
Có lần tôi thấy một người đi
Không biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc chia ly
(Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính)
Một trong những sự kiện đón đưa lịch sử hào hùng nơi ga Huế diễn ra vào một ngày cuối tháng 9 năm 1945. Đoàn tàu đưa đoàn quân "Nam Tiến" vượt dòng Hương Giang trùng trùng tiến vào ga Huế giữa tiếng hô vang một góc trời Lịch Đợi. Đoàn tàu dừng lại khá lâu và người xứ Huế tiễn đưa chồng mình, con em mình trong đại đội đầu tiên của Chi đội Trần Cao Vân lên tàu nhập đoàn quân "Nam Tiến". Chan chứa tình đồng chí, nghĩa đồng bào, chan chứa niềm tự hào vì chồng con lên đường bởi sự tồn vong của tổ quốc nhưng trong một góc sâu nào đó cũng có những giọt lệ thầm khi nghĩ đến chiếc khăn sô có thể về trên đầu bạc mẹ già, người vợ trẻ, đứa con thơ...
Hiệp định Geneve chia cắt đất nước cũng là chia cắt con đường hỏa xa thiên lý. Hai năm để hoà hợp non sông trở thành 20 năm biền biệt chiến tranh, ly tán, những chuyến tàu qua mọi miền đất nước ngày nào trở thành phương tiện phục vụ chiến tranh. Vì vậy, cũng như khắp nơi trên toàn miền Nam, 1102 km đường sắt từ Đông Hà đến Sài Gòn cũng oằn mình dưới khói lửa bom đạn và thu ngắn dần theo thời gian kéo dài của cuộc chiến tranh. Tuyến tàu chợ Huế - Đà Nẵng thoi thóp trong hơi nóng của cuộc chiến ngày càng ác liệt. Vì một tai nạn trong thời niên thiếu, tôi cũng đã từng đi trên chuyến tàu xuyên hầm Hải Vân ấy.
Ngã ba Nam Giao, đường lên các lăng Tự Đức và Minh Mạng, cảnh sát luôn canh chừng "Việt Cộng" xâm nhập thành phố Huế. Một buổi chiều Nam Giao như bao buổi chiều khác, tôi đi học luyện thi vào lớp 6 trường nữ sinh trung học Đồng Khánh Huế. Trên đường về nhà qua ngã ba lúc trời chiều chạng vạng, tôi cùng các bạn qua đường khi một xe chở gỗ chạy qua. Súng nổ. Sau này tôi được biết, viên cảnh sát muốn bắn thủng lốp chiếc xe không dừng lại theo hiệu lệnh nhưng giữa trời chạng vạng, viên đạn vô tình đã xuyên thẳng vào tôi. Sau vài ngày nằm ở Bệnh viện Huế, tôi được lên tàu vào Bệnh viện Việt Đức ở Đà Nẵng chữa trị vết thương. Đó là chuyến đi tàu đầu tiên đầy ấn tượng trong đời.
Về sau, không có dịp đi tàu nhưng hầu như ngày nào tôi cũng vào sân ga Huế. Trước năm 1975, giao thông nội thị Huế và vùng phụ cận phần lớn bằng xe buýt, thường gọi là xe đò với bến đỗ trung tâm là chợ Đông Ba. Xe đò đánh số từ 1 đến 14, luân phiên chẵn lẻ các vùng phía Bắc và Nam sông Hương. Nhà ở vùng đồi Dương Xuân nên ngày ngày tôi theo xe Từ Đàm đến trường Đồng Khánh. Ga Huế ngoài là ga đường sắt còn là nơi đón và trả khách đến và đi từ sân bay Phú Bài. Vì vậy cũng như xe Long Thọ từ trên về, xe Từ Đàm xuống dốc không qua cầu Nam Giao mà đi vòng lên ga Huế đợi khách. Từ những ký ức ấy, ga Huế luôn gần gũi, thân thương trong tôi cũng như với mọi người.
Năm học ấy vắt qua cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Một chiều đi học tôi thấy cả rừng cờ hoa ngập sân ga Huế. Sau 30 năm gián đoạn, tuyến đường sắt xuyên Việt, huyết mạch Bắc Nam đã được khơi thông. Ngày cuối năm 1976, hai đoàn tàu Thống Nhất xuất phát từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyến tàu đi từ Hà Nội đến ga Huế lúc 7 giờ 20 phút ngày 2 tháng 1 năm 1977 và cùng ngày chuyến tàu đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến Huế lúc 17 giờ 06 phút.
Ngày ấy cũng đã hơn 30 năm rồi. 30 năm với biết bao nhiêu chuyện chuyển dời thế sự cũng như thân phận con người, bao ký ức đứng chật sân ga.
Bây giờ là đại diện của Công ty Dịch vụ Du lịch Đường sắt Hà Nội tại Huế, tôi thường đến ga tàu để đón và tiễn khách tham quan. Không còn là những "toa tàu nặng nỗi đau" nữa mà bây giờ là những toa tàu khá tiện nghi, phù hợp với du khách đường xa. Bao giờ cũng vậy, nghe tiếng còi tàu, lòng lại thấy nao nao.
Trên mọi miền ai có nhớ về sân ga một thuở. Nắng ấm phương Nam, mây mờ xứ Bắc vần vũ trên đỉnh Hải Vân, rơi vào từng khoang tàu cho ai dặt dìu thêm nỗi nhớ quê nhà, cho ai dằng dặc thêm một tình yêu đã xa, đau đáu nỗi niềm.
Bao bước chân sẽ bước về bến cũ để vỡ oà kỷ niệm một thời. Cũng như mỗi lần Tết đến, tàu đỗ sân ga cho ai bước vào khu vườn, mái nhà xưa xứ Huế.
Rồi một năm mới sẽ qua, một thập niên cũng qua. Ngày mai phát triển, vì giao thông nội thị, vì qui hoạch, biết đâu ga Huế mới sẽ được xây dựng ở ngoại thành. Dù vậy thì ga Huế với sứ mệnh lịch sử của mình xứng đáng là di tích lịch sử văn hóa quốc gia trong lòng thành phố di sản, xứng đáng ở lại mãi mãi với đất cố đô này như đã ở trong ký ức mọi người một thế kỷ đã qua.